Lê Văn Nghĩa qua một tiểu luận tốt nghiệp

Là một nhà báo, anh đến với thể loại tiểu phẩm một cách rất tình cờ, nhưng không ngờ thể loại này lại trở thành sở trường của tác giả “viết riết rồi quen, càng viết càng thấy thích, thấy mình hợp với thể loại này” như anh đã tâm sự.
Lê Văn Nghĩa viết nhiều tiểu phẩm báo chí trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật từ 1990 đến 1996 với các bút danh Thằng Mõ, Ba Sài Gòn, Hề,…, là người “cầm dùi” mục Mõ Sài Gòn. Trên Tuổi Trẻ Cười, Lê Văn Nghĩa xuất hiện thường xuyên với nhiều tiểu phẩm trào phúng xuất sắc. Tiểu phẩm trào phúng của anh đã được in thành nhiều tập và đã được xuất bản rộng rãi. Nó đang trở thành một món ăn “ngon miệng” của nhiều người.
Tác giả quan niệm tiểu phẩm gần giống như một loại truyện ngắn về một vấn đề xã hội và có tính chất châm biếm, ngắn gọn, cập nhật. Do vậy, người viết phải có óc thông minh, dí dỏm, khôi hài. Óc hài hước bẩm sinh đã tạo nên cái cười rất đặc trưng trong tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa. Anh viết rất nhẹ nhàng, thoải mái, mạch văn trôi chảy tự nhiên, không gượng ép.
Đề tài trung tâm trong các tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa là những “nhân vật điển hình tiêu cực” đặc biệt là những ông “tai to mặt bự”. Nghệ thuật điển hình hóa được xây dựng rất tài tình làm cho tiểu phẩm có tính khái quát rất cao. Nhân vật phản diện chứa đựng trong mình nhiều thói hư, tật xấu, đại diện cho một thành phần nào đó trong xã hội.
Đầu những năm 90, khi nước ta thật sự chuyển sang nền kinh tế thị trường, tình hình kinh tế xã hội có nhiều rối ren, phức tạp; tình trạng tham nhũng, nạn ăn cắp của công dữ dội hơn; nhiều cán bộ Nhà nước không đủ năng lực để đảm nhận nhiệm vụ của mình và trở thành một lực cản đối với sự phát triển của xã hội… Lê Văn Nghĩa, “nhà mùi học”, rất nhạy cảm với thời cuộc, bằng ngòi bút sắc sảo của mình đã vẽ nên hàng loạt những nhân vật điển hình mà ngày nay khi nhìn lại, ta vẫn có thể mường tượng ra không khí xã hội lúc bấy giờ.

Nhân vật Đại Văn Mỗ xuất hiện xuyên suốt tập tiểu phẩm nhiều kỳ của Lê Văn Nghĩa, tập trung đầy đủ những thói hư tật xấu của một bộ phận cán bộ quan chức Nhà nước. Trong tiểu phẩm “Úmbala biến” (1), Mỗ là người biết “biến tài sản Nhà nước thành tài sản tư nhân một cách hợp pháp”, “biết xin về hưu non mở xí nghiệp sản xuất vì muốn tránh tiếng là người đục khoét Nhà nước sau khi đã gặm kha khá rồi”, biết cách mua đất đai, vay nợ nước ngoài theo cách liên doanh nào đó để khi “bể ra thì trả nợ nước ngoài Nhà nước chịu, chứ còn đất đai, tài sản thì vẫn là của Mỗ”.

Trong nhiều tiểu phẩm khác, Mỗ là người ăn chơi sa đọa, hoang phí tiền của dân, của nước. Những chuyến đi Tây, đi công tác xa của Mỗ chẳng khác nào là chuyến đi ăn chơi trác táng. Mỗ là người hết sức ngu dốt, một lời tạm biệt với khách nước ngoài cũng không biết nói, nhưng nghe đến chuyện nhậu là vô cùng phấn khởi, hồ hởi. Cả nhà Mỗ đều thích xài đồ ngoại: nuôi chó ngoại, uống rượu ngoại, và ngay cả con gái mình, Mỗ cũng huấn luyện cho cô đi lấy chồng ngoại.
Nhân vật phản diện trong tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa còn là những cô người mẫu và diễn viên đem “vốn tự có” của mình để đổi lấy xe hơi, nhà lầu,…, những thứ mà các ông bồ dâng tặng bằng tiền tham nhũng.
Nhìn chung, những tiểu phẩm có nội dung chống tham nhũng, chống những thói hư tật xấu chiếm phần lớn trong các sáng tác của Lê Văn Nghĩa. Bằng nghệ thuật điển hình hóa và lối văn châm biếm hết sức tài tình, tác giả đã khắc họa lên những bộ mặt xấu xa để người dân muôn đời nguyền rủa. Những bộ mặt đại diện cho các thế lực lạc hậu, phản động, suy đồi về đạo đức, văn hóa và lối sống, làm trì trệ, cản trở sự phát triển của xã hội. Nghệ thuật kể chuyện hết sức tự nhiên, khách quan, những chi tiết chọn lọc, miêu tả phản ánh hết sức độc đáo làm tăng tính phê phán của tác phẩm.

Tiểu phẩm “Tổng giám đốc của tôi” (2) được khép lại bằng chi tiết sau:
“Lúc buổi làm việc vừa xong, người phiên dịch đi vào toa-lét thì một trong những ông khách nước ngoài bắt tay ông và nói: “See you again” (hẹn gặp lại).
Vì không có phiên dịch ở đây nên ông ta ngớ người ra, và bí quá, ông ta quay qua tay kế toán trưởng hỏi:
- Nó nói cái gì vậy mậy?
Tên kế toán trưởng cũng vốn dốt, nhưng làm tài khôn nên nói cho qua:
- A,… nó rủ chiều nay đi nhậu đó!
Nghe nói tới nhậu, mắt ông tổng giám đốc sáng lên:
- Nhậu hả… Sao tới chiều lận? Bây giờ 10 giờ rồi, nhậu được rồi đó! Tao mới biết nhiều chỗ có các em hay lắm… Mời nó đi liền!”.
Một chi tiết nhỏ nhưng sức tố cáo, sức phê phán của nó rất lớn. Rất tự nhiên, khách quan, tác giả để cho nhân vật tự bộc lộ bản chất xấu xa của mình.
Cũng giống như truyện ngắn, tiểu phẩm của Lê Văn Nghĩa được xây dựng theo kiểu có thắt nút, mở nút, thu hút người đọc. Kết thúc tác phẩm thường để lại cho người đọc một cái cười khoái trá, cái cười mỉa mai, khinh bỉ đối với cái xấu, cái cười hài lòng sảng khoái khi cái ác, cái xấu bị trừng trị.
“Tình ngoại” (3) được mở nút như sau:
“Khi muốn kết hôn với ngoại kiều, dù là con của ai đi nữa, cũng phải qua các thủ tục từ Sở Tư pháp đến Viện Pastơ. Và khi đưa kết quả xét nghiệm máu, một nhân viên của Viện Pastơ đã hỏi cô một câu hỏi khó trả lời:
- Cô đã quan hệ thân mật với Mi-sen chưa?
- Không hề, tôi là con một gia đình có giáo dục…
- Vậy thì tôi mừng cho cô, khi xét nghiệm trong máu của Mi-sen có vi khuẩn HIV dương tính.
Cô Mơ rùng mình và bật khóc. Không hiểu cô khóc thương cho người tình ngoại hay khóc cho bản thân cô đã lỡ quan hệ quá đậm đà với Mi-sen thì có Trời mới biết. Nhưng điều chắc chắn là cô đã nói đúng. Chỉ có người tình ngoại như Mi-sen mới đem lại cho cô những thứ mà người tình nội vẫn không tìm ra được”.
Với óc thông minh, hài hước, tác giả đã chọn lọc những chi tiết nhỏ nhưng thật đắt, và sắp xếp, cấu trúc tác phẩm một cách khoa học, chặt chẽ. Giọng văn lúc nào cũng tự nhiên, nhẹ nhàng thoải mái, ngôn ngữ bình dân, thường nhật được sử dụng hết sức điêu luyện.

Trong tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ bình dân, những từ lóng… xuất hiện với mật độ dày đặc: “xực” thay cho “ăn”, “chuồn lẹ” thay cho “đi nhanh”, “quá cỡ thợ mộc” thay cho “quá sức tưởng tượng”, “im re” thay cho “im lặng”, “con bài cuối cùng” thay cho “phương cách cuối cùng”, “gặm” thay cho “ăn”. Kèm theo đó là việc “biến tấu” những câu ca dao tục ngữ, những câu hát, điệu nhạc quen thuộc vào trong tiểu phẩm của mình như “mò kim đáy bể”, “không thày đố mày mần ăn”, “đường dài mới biết ngựa hay”, “lấy tiền… (Nhà nước) bao gái có đòi được đâu”, “hát với dòng sông đen”… Những thủ thuật trên làm cho tác phẩm trở nên gần gũi với người đọc, đồng thời nhấn mạnh ý của tác giả.

Chan-dung-nha-van-Le-Van-Nghia.jpgGạt nội dung tư tưởng sang một bên, lướt mắt trên những dòng chữ, ta cũng cảm thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái bởi nhịp điệu của câu chữ, đọc đến đâu muốn cười đến đó.
Tác giả cũng thường liên tưởng chuyện trong nước, ngoài nước, chuyện hiện tại, quá khứ,…, để xây dựng tiểu phẩm với nghệ thuật cường điệu, ẩn dụ… làm tăng thêm vẻ độc đáo cho tác phẩm. Khi phê phán về ngôn ngữ quảng cáo, tác giả không vào đề ngay mà lại liên tưởng đến một câu chuyện vui về quảng cáo. “Quảng cáo… cũng nên cười tí chút” (4) được mở đầu như sau:
“Một người vừa mới chết, hồn được phán quan đưa đi tham quan địa ngục và thiên đàng để hồn tìm về nơi an nhàn (dân chủ quá cỡ thợ mộc). Khi đi qua địa ngục, hồn thấy các cô gái ăn mặc như các cô bia ôm, còn các ông thì chỉ việc nghe hát, ngồi uống bia âm phủ, đánh bài… Còn khi hồn lên thiên đàng thì ôi thôi quá… chán. Hồn chỉ thấy những ông già lụ khụ, ngồi ho hen chán ngắt. Thế là hồn bèn chọn sống ở địa ngục.
Nhưng sau khi vừa nhận được quyết định sở hữu một khu nhà vườn rộng 2 mẫu ở mặt tiền địa phủ xong thì bỗng dưng trời đất tối sầm. Ba, bốn con quỷ dạ xoa lưỡi dài tới rốn, cầm chĩa ba và roi cá sấu “đục” hồn tới tấp.

Hồn ta hoảng quá kêu lên: “Ủa sao thấy địa ngục vui lắm mà, sao bây giờ lại bị tra khảo thế này?”.

Phán quan trả lời: “Tại nhà ngươi không biết đấy thôi, mấy hình ảnh ngươi thấy chỉ là quảng cáo của địa ngục”.
Nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng ở đây thật đặc sắc. Hồn đã bị gài bẫy trong cái thế giới ma thuật của quảng cáo, thật – giả, giả – thật lẫn lộn khó lường.
Trong tiểu phẩm của Lê Văn Nghĩa, cái đúng – cái sai, nụ cười – nước mắt, thật giả – giả thật thường bị xáo trộn, đảo ngược một cách rất khôi hài. Tác giả khẳng định cái sai, phủ định điều đúng bằng giọng điệu rất tỉnh bơ, làm tăng tính châm biếm, hài hước.

Và chính sự nghịch lý, sự mâu thuẫn giữa các sự việc, hiện tượng được miêu tả với sự việc, hiện tượng trong đời thực làm nổi rõ lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm, giúp người đọc ngộ ra vấn đề một cách thấm thía nhất.
Tiểu phẩm “Lộ tẩy” (5) đã nêu lên những cảnh tượng hết sức đáng buồn, đáng mỉa mai làm sao. Điệp viên Không Không Thấy đã tìm ra được tên khủng bố có đặc điểm rất giống người Việt vì những “sơ hở” của hắn:
“Điều cốt yếu nhất là hắn sống ở xứ khác nên không hiểu gì về cái xứ của ta. Trước hết, khi đi xe gắn máy, có ai ngừng ở đèn đỏ khi phía bên kia đèn xanh không có chiếc nào chạy qua cả. Dân Việt ta nhiều khi vẫn chạy vượt cả đèn đỏ kia mà! Tôi phát hiện tên sát thủ này cực kỳ nghiêm chỉnh tuân thủ luật đi đường. Sau nhiều lần theo dõi, thấy hắn chạy xe chậm rãi, không len lách khi kẹt xe, đậu xe đúng lằn vạch qui định…; vào quán ăn, mỗi khi người phục vụ bưng thức ăn ra, anh ta liền cảm ơn; lỡ cọ quẹt ai, anh ta liền xin lỗi. Đi đâu, anh ta cũng xách cái túi để… đựng rác”.
Đọc đoạn văn trên, ta không khỏi xót xa, chạnh lòng. Tác giả liên tưởng, so sánh, gián tiếp phê phán những thói quen xấu của người Việt Nam.

Hình tượng nhân vật được xây dựng mang tính hư cấu. Giọng văn tỉnh bơ, không phải cười cợt, chửi bới mà nghe trầm lặng, chua xót làm sao! Ta cảm thấy hỗ thẹn, cảm thấy buồn trước những cảnh tượng như vậy. Tác phẩm có tính nội dung tư tưởng sâu sắc, tính giáo dục cao. Nó giúp người đọc tự nhận thức, tự đánh giá lại hành vi của mình, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp.
Trong tiểu phẩm “Cười” và “Nụ cười trả góp”, Lê Văn Nghĩa đã làm đảo lộn tính chất của nụ cười và nước mắt. Hai thế lực, hai nhóm người đối lập, một bên lẽ ra nên cười thì lại khóc, còn một bên lẽ ra phải khóc thì lại cười sung sướng, thật đáng buồn, đáng mỉa mai. Ẩn ý sâu xa của tác phẩm được bộc lộ một cách rất nhẹ nhàng, tự nhiên mà vô cùng thấm thía.

Con người ta hạnh phúc nhất là biết cười khi nào cần cười và biết khóc đúng lúc cần khóc. Có lẽ vì thế mà tiếng cười đôi khi nó không còn là tiếng cười, và tiếng khóc cũng không còn là tiếng khóc với cái nghĩa nguyên thủy của nó.

Nhìn bên ngoài, người đọc có cảm giác như cái ông Lê Văn Nghĩa này ngông ngông làm sao, luôn làm xáo trộn mọi thứ, luôn gán ghép sai lệch giữa cái bản chất với cái hiện tượng bằng loại ngôn ngữ hết sức thường nhật, dí dỏm, khôi hài, nhịp điệu câu chữ vui tươi, thoải mái. Nhưng đằng sau sự xáo trộn, đảo lộn ấy là ý nghĩa sâu xa, là bản chất của vấn đề, là chủ đề của tác phẩm. Ta tìm thấy một Lê Văn Nghĩa lúc nào cũng trăn trở, băn khoăn trước cuộc sống, luôn đau đáu nhìn vào con người, nhìn vào chính mình để tìm cái thật. Chắc có lẽ vì thế mà đọc tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa, ta cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, nhịp tim như nhảy múa theo từng câu chữ.

Nhưng khi đọc xong, dường như ai cũng phải lắng lòng trước ý nghĩa sâu xa của tác phẩm, lắng lòng trước những cảnh tượng đáng “cười (mà) buồn”, đáng “cười (mà) tức”. Đó cũng là tiếng cười trong hầu hết các tiểu phẩm của Lê Văn Nghĩa, “trong sáng, lạc quan, dũng cảm”, thể hiện cuộc sống đang vươn lên. Cười như thế cũng là một cách “gây áp lực của giai cấp này đối với giai cấp khác”, ở đây là “gây áp lực” đối với cái xấu, cái lạc hậu, lỗi thời.
Xã hội cần có những tiếng cười như thế để phát hiện, đẩy lùi cái xấu xa, tiêu cực, ươm mầm cho cái tốt, cái đẹp phát triển và nở hoa rực rỡ.
Cảm hứng chủ yếu của tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa là cản hứng phê phán mang tính xây dựng. Nội dung được thể hiện bằng phương thức của văn học với cách nói, cách thể hiện của văn hóa dân gian cùng với sự sáng tạo độc đáo của tác giả cho phù hợp với thời đại. Tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa trở nên gần gũi làm cho người đọc thích thú bởi chất dí dỏm, khôi hài, thông minh và bình dị trong phong cách.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình độc đáo, cùng với lối văn cường điệu được sử dụng thường xuyên làm cho tiểu phẩm Lê Văn Nghĩa có những nét đặc trưng riêng, hình thành nên phong cách riêng của tác giả. Có thể nói, “cây cười” Lê Văn Nghĩa đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển rực rỡ của thể loại tiểu phẩm trên Tuổi Trẻ nói riêng và thể loại trào phúng trên báo chí nói chung.
VÕ THỊ NGA

(1): Báo Tuổi Trẻ Cười số 293 (8-1992).
(2): Báo Tuổi Trẻ Cười tháng 1-1991.
(3): Báo Tuổi Trẻ Cười số 106 (11-1992).
(4): Báo Tuổi Trẻ Cười tháng 2-1997.
(5): Báo Tuổi Trẻ Cười số 205 (2-2002).

Tagged with: , , , ,
Posted in Các Tác Phẩm Khác

Gửi phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Giới Thiệu Sách

Tao-lao-xit-bop.jpg

Video

video.jpg

Từ khóa

  • hai tieu pham lam dau hu
  • van hoc cham biem thoi hu tat xau
  • tieu luan tot nghiep phong van hoa
  • nhung tieu pham hai ve le van luyen
  • xây dựng tiểu phẩm
  • tieu pham le van luyen
  • bai tieu luan ve ket hon voi nguoi nuoc ngoai
  • đặc trưng của thể loại tiểu phẩm
  • phan khôi nhà văn nhà báo xuất sắc của huỳnh văn hoa
  • tieu pham tren bao chi
  • tiểu phẩm can bo dan van gioi
  • LÊ VĂN NGHĨA
  • tu hinh le van nghia
  • phong cach ngon ngu bao chi chinh luan cua nha bao Huynh quang chieu
  • tiểu phẩm phòng chống tham nhũng
  • tieu pham ba boi dom
  • nien luan ket hon voi nguoi nuoc ngoai o nuoc ngoai
  • tieu su nha van le van nghia
  • nghe tieu su le van luyen vui
  • tiểu phẩm về phòng chống tham nhũng

  • .

Count per Day

  • 276652Total reads:
  • 35Reads today:
  • 105360Total visitors:
  • 1Visitors currently online: